TrungTamTriThuc.comTrung Tâm Tri Thức
Kinh tế học

Quy luật cung cầu: giá cân bằng hình thành thế nào và khi nào thị trường lệch khỏi nó

Quy luật cung cầu giải thích giá hình thành từ tương tác người mua và người bán. Bài đi qua đường cầu, đường cung, giá cân bằng, độ co giãn, giá trần và các ngoại lệ.

Wide low-angle shot of a busy Mekong floating market at sunrise, wooden boats piled with pineapples and pumpkins, Vietnamese traders in conical hats, warm orange haze and teal water

Quy luật cung cầu nói rằng giá của một hàng hoá trên thị trường cạnh tranh có xu hướng dịch chuyển đến mức mà lượng người mua muốn mua đúng bằng lượng người bán muốn bán. Mức giá đó gọi là giá cân bằng. Khi giá cao hơn, hàng dư thừa đẩy giá xuống; khi giá thấp hơn, hàng thiếu hụt kéo giá lên.

Nói chính xác hơn, "quy luật" ở đây gồm hai mệnh đề riêng: lượng cầu giảm khi giá tăng (với các yếu tố khác giữ nguyên), và lượng cung tăng khi giá tăng. Cân bằng là hệ quả của hai mệnh đề đó cộng với giả định thị trường đủ cạnh tranh để giá được tự do điều chỉnh.

Mô hình đơn giản này giải thích được rất nhiều thứ – vì sao được mùa lại mất giá, vì sao giá trần gây xếp hàng – nhưng nó cũng có ranh giới rõ ràng. Bài viết đi từ cơ chế bên dưới mỗi đường, đến độ co giãn, can thiệp giá và những trường hợp mô hình không còn đúng.

Đường cầu dốc xuống: ba cơ chế đứng sau một đường thẳng

Đường cầu biểu diễn lượng hàng người mua muốn và có khả năng mua ở từng mức giá, khi thu nhập, giá hàng liên quan, thị hiếu và kỳ vọng được giữ nguyên. Nó dốc xuống vì ba cơ chế. Thứ nhất là lợi ích biên giảm dần: bát phở thứ nhất buổi sáng đáng giá với bạn hơn bát thứ hai, nên bạn chỉ mua thêm khi giá thấp hơn.

Thứ hai là hiệu ứng thay thế: khi giá thịt lợn tăng so với thịt gà và cá, nhiều gia đình chuyển một phần bữa ăn sang thực phẩm tương đối rẻ hơn. Thứ ba là hiệu ứng thu nhập: giá tăng làm sức mua thực tế của cùng một khoản thu nhập giảm đi, nên người ta mua ít hơn hầu hết mọi thứ. John Hicks và Eugen Slutsky đã tách hai hiệu ứng này một cách hình thức trong nửa đầu thế kỷ 20, và phân tách đó là chìa để hiểu các ngoại lệ ở cuối bài.

Cần nói rõ: đường cầu thị trường là tổng theo chiều ngang của đường cầu từng cá nhân. Ngay cả khi một người không phản ứng với giá, việc nhiều người ở biên – những người vừa đủ sẵn lòng mua – rời đi khi giá tăng cũng đủ làm đường cầu tổng dốc xuống. Đây là lý do quy luật cầu có bằng chứng thực nghiệm rất mạnh ở cấp thị trường, kể cả khi hành vi cá nhân lộn xộn.

Đường cung dốc lên: câu chuyện của chi phí biên

Đường cung cho biết lượng hàng người bán sẵn lòng đưa ra thị trường ở từng mức giá. Với doanh nghiệp chấp nhận giá trong thị trường cạnh tranh, đường cung ngắn hạn chính là phần đường chi phí biên nằm trên chi phí biến đổi bình quân: doanh nghiệp sản xuất thêm chừng nào giá còn bù được chi phí của đơn vị tăng thêm.

Chi phí biên tăng vì trong ngắn hạn có yếu tố cố định. Một xưởng may với số máy và mặt bằng cho trước có thể tăng sản lượng bằng tăng ca, nhưng ca đêm đắt hơn, công nhân mệt hơn, máy hỏng nhiều hơn. Ở quy mô ngành, giá cao còn kéo những nhà sản xuất có chi phí cao hơn tham gia – chẳng hạn những vườn cà phê ở vùng đất kém thuận lợi chỉ có lãi khi giá đủ cao.

Trong dài hạn, khi mọi yếu tố đều điều chỉnh được và doanh nghiệp tự do gia nhập, đường cung ngành có thể thoải hơn nhiều, thậm chí gần nằm ngang nếu ngành mở rộng mà không đẩy giá đầu vào lên. Phân biệt cung ngắn hạn và dài hạn giải thích một hiện tượng quen thuộc ở nông nghiệp Việt Nam: giá một loại cây tăng mạnh, nông dân đồng loạt trồng, vài năm sau sản lượng dồn về cùng lúc và giá sụt. Mô hình mạng nhện (cobweb) trong kinh tế học mô tả đúng vòng lặp này khi người sản xuất quyết định dựa trên giá của vụ trước.

Giá cân bằng và cơ chế tự điều chỉnh

Tại giá cân bằng, lượng cung bằng lượng cầu, không còn áp lực thay đổi giá. Nếu giá đang cao hơn, người bán thấy hàng tồn kho tăng và bắt đầu giảm giá để bán được; nếu giá thấp hơn, người mua tranh nhau, hàng hết sớm, người bán nhận ra có thể nâng giá. Không ai cần biết đường cung hay đường cầu trông thế nào – mỗi người chỉ phản ứng với tình trạng thừa hay thiếu trước mắt.

Alfred Marshall, trong "Principles of Economics" (1890), hệ thống hoá phân tích này và dùng hình ảnh chiếc kéo: hỏi giá được quyết định bởi cung hay cầu cũng như hỏi lưỡi kéo trên hay lưỡi kéo dưới cắt tờ giấy. Hình ảnh đó khép lại một cuộc tranh luận kéo dài giữa các nhà kinh tế cổ điển, vốn nhấn mạnh chi phí sản xuất, và các nhà theo thuyết lợi ích biên, vốn nhấn mạnh phía người mua.

Ý nghĩa sâu hơn của cân bằng là về thông tin. Friedrich Hayek, trong bài "The Use of Knowledge in Society" (1945), lập luận rằng giá cả cô đọng những hiểu biết phân tán của hàng triệu người – một vụ mất mùa ở nơi xa, một công nghệ mới – thành một tín hiệu duy nhất mà ai cũng đọc được. Bạn không cần biết vì sao thiếc khan hiếm; giá thiếc tăng là đủ để bạn tiết kiệm nó. Tất nhiên điều này chỉ đúng khi giá được tự do phản ánh khan hiếm, điểm sẽ quay lại ở phần can thiệp giá.

Di chuyển dọc đường hay dịch chuyển cả đường: phân biệt then chốt

Lỗi phân tích cung cầu phổ biến nhất là lẫn lộn hai thứ: thay đổi giá của chính hàng hoá làm ta di chuyển dọc theo đường, còn thay đổi bất kỳ yếu tố nào khác làm dịch chuyển cả đường. Bảng dưới tóm các yếu tố chính.

Yếu tố thay đổiĐường bị dịch chuyểnVí dụTác động lên giá và lượng cân bằng
Thu nhập tăng (hàng thông thường)Cầu sang phảiThu nhập đô thị tăng, cầu du lịch nội địa tăngGiá tăng, lượng tăng
Giá hàng thay thế tăngCầu sang phảiVé máy bay tăng, cầu vé tàu cao tốc tăngGiá tăng, lượng tăng
Kỳ vọng giá tương lai tăngCầu sang phải ngay hôm nayMua tích trữ trước đợt tăng giá dự kiếnGiá tăng sớm
Công nghệ giảm chi phíCung sang phảiGiống lúa năng suất caoGiá giảm, lượng tăng
Giá đầu vào tăngCung sang tráiGiá phân bón, xăng dầu tăngGiá tăng, lượng giảm
Thời tiết xấuCung sang tráiHạn mặn ở Đồng bằng sông Cửu LongGiá tăng, lượng giảm

Một ví dụ cho thấy vì sao phân biệt này quan trọng: câu "giá tăng làm cầu giảm, cầu giảm làm giá giảm, nên giá sẽ quay về" là lập luận vòng vo sai. Giá tăng chỉ làm lượng cầu giảm (di chuyển dọc đường), không làm cầu giảm (dịch chuyển đường). Khi cả cung và cầu cùng dịch chuyển, hướng thay đổi của một trong hai biến – giá hoặc lượng – sẽ không xác định nếu không biết độ lớn tương đối của hai dịch chuyển.

Độ co giãn: vì sao được mùa lại mất giá

Độ co giãn của cầu theo giá đo phần trăm thay đổi của lượng cầu khi giá thay đổi một phần trăm. Nếu giá tăng 10% mà lượng cầu giảm 2%, độ co giãn là −0,2: cầu kém co giãn. Nếu lượng cầu giảm 25%, độ co giãn là −2,5: cầu co giãn mạnh. Ba yếu tố quyết định độ co giãn: hàng có dễ thay thế không, chiếm bao nhiêu phần ngân sách, và người mua có bao nhiêu thời gian để điều chỉnh. Gạo, xăng, thuốc thiết yếu kém co giãn trong ngắn hạn; một nhãn hiệu nước ngọt cụ thể co giãn mạnh vì có vô số thay thế.

Độ co giãn quyết định doanh thu. Doanh thu bằng giá nhân lượng, nên khi cầu kém co giãn, giá giảm làm doanh thu giảm. Đây là cơ chế của nghịch lý được mùa mất giá. Ví dụ giả định: cầu thanh long ở một thị trường có độ co giãn −0,4. Năm được mùa, sản lượng đưa ra tăng 20%; để bán hết, giá phải giảm khoảng 50% (vì 20 chia 0,4). Doanh thu toàn ngành lúc này chỉ còn khoảng 1,2 × 0,5 = 0,6 lần năm trước. Từng nhà vườn được mùa vẫn thiệt, vì giá do cả thị trường quyết định.

Ở phía cung, độ co giãn cho biết người sản xuất phản ứng nhanh đến đâu. Cây lâu năm như cà phê, sầu riêng có cung rất kém co giãn trong ngắn hạn – trồng mới mất nhiều năm mới cho trái – nên cú sốc cầu biểu hiện chủ yếu ở giá. Hiểu điều này giúp đọc đúng biến động giá nông sản: biên độ lớn thường là dấu hiệu của cung và cầu cùng kém co giãn, không nhất thiết là dấu hiệu thao túng.

Giá trần, giá sàn và cái giá của việc chặn tín hiệu

Giá trần thấp hơn giá cân bằng tạo thiếu hụt. Khi giá bị giữ dưới mức cân bằng, lượng cầu vượt lượng cung. Hàng không được phân bổ bằng giá thì sẽ được phân bổ bằng thứ khác: xếp hàng, quan hệ, may rủi hay chợ đen. Các nghiên cứu về kiểm soát giá thuê nhà, ví dụ ở San Francisco do Diamond, McQuade và Qian công bố năm 2019, cho thấy người thuê đang được bảo vệ hưởng lợi, nhưng chủ nhà thu hẹp nguồn cung cho thuê, khiến giá thuê chung của thành phố có thể tăng.

Giá sàn cao hơn giá cân bằng tạo dư thừa. Giá mua tối thiểu nông sản, nếu đặt cao hơn mức thị trường, khiến hàng tồn ứ và Nhà nước phải mua vào hoặc trợ giá. Lương tối thiểu là trường hợp giá sàn gây tranh luận nhiều nhất: mô hình cạnh tranh đơn giản dự báo mất việc làm, nhưng nghiên cứu của Card và Krueger (1994) về ngành thức ăn nhanh ở New Jersey và Pennsylvania không thấy tác động tiêu cực, mở ra một cuộc tranh luận thực nghiệm kéo dài đến nay.

Tổn thất không chỉ là tiền. Thiếu hụt kéo theo chi phí thời gian chờ, chất lượng giảm vì người bán không có động lực, và phân bổ sai: hàng không đến tay người đánh giá nó cao nhất. Kinh tế học gọi phần giao dịch đáng lẽ có lợi cho cả hai bên mà không xảy ra là tổn thất vô ích (deadweight loss).

Can thiệp có thể hợp lý khi thị trường không cạnh tranh. Lập luận trên giả định thị trường cạnh tranh. Khi người mua có sức mạnh độc quyền mua, như một nhà tuyển dụng duy nhất ở một vùng, lương tối thiểu vừa phải về lý thuyết có thể tăng cả lương lẫn việc làm. Kết luận về can thiệp giá vì thế phụ thuộc cấu trúc thị trường cụ thể, không suy ra được chỉ từ hình vẽ cung cầu.

Khi nào mô hình không còn đúng: Giffen, Veblen và kỳ vọng

Hàng Giffen là trường hợp lý thuyết trong đó giá tăng làm lượng cầu tăng. Điều kiện rất hẹp: hàng phải là hàng thứ cấp và chiếm phần lớn ngân sách, đến mức hiệu ứng thu nhập âm lấn át hiệu ứng thay thế. Trong một thời gian dài, đây gần như chỉ là ví dụ sách giáo khoa. Robert Jensen và Nolan Miller (2008) đưa ra bằng chứng thực nghiệm hiếm hoi: các hộ rất nghèo ở Hồ Nam, Trung Quốc, khi được trợ giá gạo ngẫu nhiên, lại mua ít gạo hơn, vì khoản tiết kiệm được dùng mua thịt – thực phẩm họ ưa hơn.

Hàng Veblen, theo tên Thorstein Veblen với khái niệm tiêu dùng phô trương (1899), là hàng mà giá cao chính là một phần giá trị: đồng hồ xa xỉ, túi hàng hiệu. Ở đây giả định "thị hiếu giữ nguyên" bị phá vỡ, vì giá thay đổi thì bản thân món hàng, với tư cách tín hiệu địa vị, cũng thay đổi.

Tài sản và kỳ vọng là vùng mô hình tĩnh yếu nhất. Với đất đai, chứng khoán hay vàng, giá tăng có thể kéo theo kỳ vọng tăng tiếp, làm cầu dịch chuyển sang phải chứ không chỉ di chuyển dọc đường. Vòng phản hồi này giải thích vì sao thị trường tài sản có thể lệch xa khỏi mức do chi phí và lợi ích sử dụng quyết định trong thời gian dài. Ngoài ra, mô hình cung cầu cạnh tranh không áp dụng nguyên vẹn khi có độc quyền, thông tin bất cân xứng hay ngoại ứng – những trường hợp được phân tích riêng trong lý thuyết thất bại thị trường.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao gọi là quy luật mà vẫn có ngoại lệ?

Chữ quy luật trong kinh tế học là cách nói truyền thống, không cùng nghĩa với định luật vật lý. Quy luật cầu là một khái quát thực nghiệm rất mạnh ở cấp thị trường, đúng với tuyệt đại đa số hàng hoá. Ngoại lệ như hàng Giffen tồn tại nhưng đòi hỏi điều kiện hẹp, và chính việc xác định được điều kiện đó cho thấy lý thuyết đủ chặt để chỉ ra khi nào nó sai.

Thặng dư tiêu dùng và thặng dư sản xuất là gì?

Thặng dư tiêu dùng là chênh lệch giữa mức giá tối đa người mua sẵn lòng trả và giá thực trả, cộng cho mọi đơn vị đã mua; trên đồ thị là vùng nằm dưới đường cầu và trên giá. Thặng dư sản xuất là chênh lệch giữa giá nhận được và chi phí biên. Tổng hai phần đạt cực đại tại cân bằng cạnh tranh, đây là nền của phân tích phúc lợi.

Thuế đánh vào người bán thì người bán có chịu hết không?

Không nhất thiết. Ai thực sự gánh thuế phụ thuộc độ co giãn tương đối, không phụ thuộc luật quy định ai nộp. Bên kém co giãn hơn gánh phần lớn hơn. Với xăng dầu, cầu ngắn hạn kém co giãn nên phần lớn thuế thường chuyển sang người mua qua giá bán lẻ, dù doanh nghiệp là bên nộp thuế.

Thị trường lao động có tuân theo cung cầu không?

Có ở mức khái quát, nhưng với nhiều đặc thù: lương ít khi giảm danh nghĩa, người lao động không đồng nhất, tìm việc và tuyển người mất thời gian, và người thuê có thể có sức mạnh độc quyền mua. Vì vậy kinh tế học lao động dùng thêm các mô hình tìm kiếm và khớp nối, lương hiệu quả bên cạnh mô hình cung cầu cơ bản.

Giá cân bằng có phải là giá công bằng không?

Không. Giá cân bằng là khái niệm thực chứng, mô tả mức giá xoá thừa thiếu, còn công bằng là phán đoán chuẩn tắc. Cân bằng cạnh tranh hiệu quả theo nghĩa không lãng phí giao dịch có lợi, nhưng kết quả phân phối của nó phụ thuộc phân phối thu nhập ban đầu. Nhiều nhà kinh tế vì vậy ưa hỗ trợ thu nhập trực tiếp hơn là bóp méo giá.

Làm sao ước lượng độ co giãn trên dữ liệu thật?

Không thể chỉ hồi quy lượng theo giá, vì giá và lượng quan sát được là giao điểm của cung và cầu cùng dịch chuyển, gọi là vấn đề nhận dạng. Nhà nghiên cứu cần biến công cụ, tức một yếu tố làm dịch chuyển một đường mà không ảnh hưởng đường kia, như thời tiết tác động lên cung nông sản, hoặc dùng thí nghiệm giá ngẫu nhiên.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.