Lạm phát là sự tăng lên liên tục của mức giá chung trong nền kinh tế, đồng nghĩa với việc mỗi đồng tiền mua được ít hàng hoá và dịch vụ hơn theo thời gian. Nó thường được đo bằng tốc độ tăng của chỉ số giá tiêu dùng (CPI) so với cùng kỳ năm trước.
Ba chữ cần giữ chặt là "chung", "liên tục" và "mức giá". Giá thịt lợn tăng vọt vì dịch bệnh là thay đổi giá tương đối, chưa phải lạm phát nếu giá các thứ khác không tăng theo. Một đợt tăng giá một lần rồi dừng cũng khác với một quá trình tăng giá kéo dài năm này qua năm khác.
Phần dưới trình bày cách các cơ quan thống kê đo lạm phát và chỗ thước đo có thể lệch, ba nhóm nguyên nhân mà kinh tế học đã xác định, ai thực sự được và mất, bài học từ các cơn siêu lạm phát và lý do các ngân hàng trung ương không nhắm mức lạm phát bằng 0.
Đo lạm phát: CPI được tính thế nào và lệch ở đâu
CPI theo dõi giá của một rổ hàng hoá và dịch vụ đại diện cho chi tiêu của hộ gia đình. Ở Việt Nam, chỉ số này do cơ quan thống kê quốc gia (Cục Thống kê, trước đây là Tổng cục Thống kê) công bố hằng tháng. Những điểm người đọc chuyên môn nên nắm:
- Quyền số: mỗi nhóm hàng có trọng số theo tỷ trọng chi tiêu, lấy từ điều tra mức sống hộ gia đình và được cập nhật định kỳ theo năm gốc. Ở các nước thu nhập trung bình, nhóm lương thực, thực phẩm và nhà ở thường có quyền số lớn, nên biến động giá ăn uống tác động mạnh tới CPI.
- Lạm phát cơ bản: CPI loại trừ các mặt hàng biến động mạnh hoặc do Nhà nước quản lý giá như lương thực, năng lượng, dịch vụ y tế và giáo dục. Thước đo này phản ánh xu hướng nền và được ngân hàng trung ương theo dõi sát.
- Chỉ số giảm phát GDP: đo giá của mọi hàng hoá sản xuất trong nước, kể cả hàng đầu tư, nhưng không gồm hàng nhập khẩu tiêu dùng. Vì phạm vi khác nhau, nó có thể lệch đáng kể so với CPI.
- Thiên lệch thay thế: rổ hàng cố định không ghi nhận việc người dân chuyển sang hàng rẻ hơn khi giá tăng, nên dễ phóng đại mức tăng chi phí sinh hoạt.
- Thiên lệch chất lượng và hàng mới: một chiếc điện thoại cùng giá nhưng mạnh hơn nhiều thực chất là giảm giá. Báo cáo của Ủy ban Boskin (1996) ước lượng CPI Mỹ khi đó phóng đại lạm phát khoảng 1,1 điểm phần trăm mỗi năm vì các thiên lệch này, dẫn đến nhiều cải tiến phương pháp sau đó.
Hệ quả thực tế: con số lạm phát không phải là "lạm phát của bạn". Một gia đình chi nhiều cho học phí và thuê nhà ở đô thị lớn có thể chịu mức tăng chi phí khác xa CPI bình quân cả nước, theo chiều nào cũng có thể.
Ba nhóm nguyên nhân: tiền, cầu và chi phí
Tiền tệ – nguyên nhân dài hạn. Phương trình số lượng MV = PY, được Irving Fisher trình bày trong "The Purchasing Power of Money" (1911), là một đồng nhất thức: lượng tiền nhân vòng quay của tiền bằng mức giá nhân sản lượng thực. Nếu vòng quay tương đối ổn định và sản lượng thực bị giới hạn bởi năng lực sản xuất, tiền tăng nhanh hơn sản lượng thì giá phải tăng. Milton Friedman tóm điều này trong câu nổi tiếng rằng lạm phát luôn và ở đâu cũng là hiện tượng tiền tệ. Bằng chứng xuyên quốc gia trong dài hạn ủng hộ mạnh mối liên hệ này, nhất là ở các nước lạm phát cao; ở mức lạm phát thấp, vòng quay của tiền biến động nhiều và mối liên hệ ngắn hạn yếu đi.
Cầu kéo. Khi tổng cầu – tiêu dùng, đầu tư, chi tiêu chính phủ, xuất khẩu ròng – tăng nhanh hơn khả năng sản xuất, doanh nghiệp không đáp ứng kịp và tăng giá. Lạm phát cầu kéo thường đi kèm thất nghiệp thấp và tăng trưởng nóng.
Chi phí đẩy. Cú sốc giá đầu vào như giá dầu, giá lương thực thế giới, đứt gãy chuỗi cung ứng hay tỷ giá mất giá làm chi phí sản xuất tăng và đẩy giá bán lên, thường kèm sản lượng giảm. Thập niên 1970, các cú sốc dầu mỏ gây ra tình trạng vừa lạm phát cao vừa suy thoái mà người ta gọi là lạm phát đình trệ.
Kỳ vọng – chất kết dính. Nếu người lao động và doanh nghiệp tin giá sẽ tăng 10% năm tới, họ đàm phán lương và đặt giá theo mức đó, khiến dự đoán tự trở thành sự thật. Vì vậy một cú sốc chi phí tạm thời có thể biến thành lạm phát dai dẳng nếu kỳ vọng mất neo. Việc neo kỳ vọng là lý do ngân hàng trung ương coi trọng uy tín đến vậy.
Ai được, ai mất khi lạm phát xảy ra
Lạm phát không làm cả nền kinh tế nghèo đi theo cách đơn giản, vì giá bán của người này là thu nhập của người kia. Điều nó làm là phân phối lại, và tác động phụ thuộc nhiều vào việc lạm phát có được dự đoán trước hay không.
| Nhóm | Lạm phát bất ngờ | Lý do |
|---|---|---|
| Người đi vay lãi cố định | Được | Trả nợ bằng đồng tiền đã mất giá; giá trị thực của khoản nợ giảm |
| Người cho vay, người gửi tiết kiệm lãi cố định | Mất | Lãi danh nghĩa không bù được mức giảm sức mua |
| Người hưởng lương, lương hưu điều chỉnh chậm | Mất trong ngắn hạn | Thu nhập danh nghĩa đi sau giá cả |
| Người giữ nhiều tiền mặt | Mất | Tiền mặt không sinh lãi, mất giá trực tiếp |
| Nhà nước đang nợ bằng nội tệ | Được | Giá trị thực của nợ công giảm; thu thêm "thuế lạm phát" từ việc phát hành tiền |
| Người nộp thuế khi biểu thuế không điều chỉnh theo giá | Mất | Thu nhập danh nghĩa tăng đẩy họ lên bậc thuế cao hơn dù thu nhập thực không đổi |
Ngoài phân phối lại, lạm phát còn có chi phí nguồn lực thật. "Chi phí thực đơn" là công sức liên tục in lại bảng giá, cập nhật hệ thống. "Chi phí mòn giày" là thời gian người ta bỏ ra để tránh giữ tiền. Nghiêm trọng hơn, lạm phát cao và biến động làm nhiễu tín hiệu giá: doanh nghiệp khó phân biệt giá sản phẩm mình tăng vì cầu thật hay vì mọi giá đều tăng, dẫn đến quyết định đầu tư sai. Đây là lý do ổn định giá được coi là điều kiện nền cho tăng trưởng, không phải mục tiêu tự thân.
Siêu lạm phát: khi tiền mất chức năng
Siêu lạm phát thường được định nghĩa theo Phillip Cagan (1956) là lạm phát vượt 50% mỗi tháng. Các trường hợp lịch sử cho thấy một mô thức lặp lại rõ rệt:
- Đức 1922–1923: gánh nặng bồi thường chiến tranh và thâm hụt ngân sách được tài trợ bằng in tiền. Đến cuối năm 1923, giá cả tăng gấp nhiều lần chỉ trong vài ngày; cơn lạm phát chỉ dừng khi đồng tiền mới được phát hành gắn với cam kết hạn chế cung tiền và cải cách tài khoá.
- Hungary 1945–1946: trường hợp được ghi nhận là có tốc độ tăng giá cao nhất lịch sử, giá cả tăng gấp đôi chỉ trong khoảng nửa ngày ở đỉnh điểm.
- Việt Nam cuối thập niên 1980: lạm phát lên mức ba chữ số mỗi năm trong giai đoạn 1986–1988, gắn với thâm hụt ngân sách, cơ chế giá bao cấp và tài trợ bằng phát hành tiền. Lạm phát chỉ được kiềm chế từ khoảng 1989 sau khi tự do hoá phần lớn giá cả, nâng lãi suất tiền gửi lên dương thực và siết tài trợ thâm hụt.
- Zimbabwe 2007–2009: thâm hụt kéo dài cùng sản lượng nông nghiệp sụp đổ; đồng nội tệ cuối cùng bị bỏ, nền kinh tế chuyển sang dùng ngoại tệ.
Mô thức chung: siêu lạm phát gần như luôn bắt nguồn từ thâm hụt ngân sách lớn được tài trợ bằng phát hành tiền, trong bối cảnh nhà nước không còn khả năng vay hay thu thuế đủ. Cú sốc cung có thể châm ngòi, nhưng không cơn siêu lạm phát nào kéo dài mà không có tăng tiền ồ ạt. Và cách chấm dứt luôn bao gồm một cải cách tài khoá đáng tin cậy, không chỉ là đổi tiền.
Vì sao mục tiêu là khoảng 2% chứ không phải 0%
Năm 1990, New Zealand trở thành nước đầu tiên áp dụng chính thức khuôn khổ lạm phát mục tiêu, giao cho ngân hàng trung ương một con số cụ thể và trách nhiệm giải trình. Từ đó nhiều nền kinh tế phát triển hội tụ quanh mục tiêu khoảng 2%. Vì sao không nhắm 0%, khi lạm phát gây tốn kém như trên?
Lý do thứ nhất là sai lệch đo lường: nếu CPI phóng đại lạm phát thật vài phần mười điểm phần trăm, CPI bằng 0 có thể nghĩa là giá thực tế đang giảm. Thứ hai là giới hạn dưới của lãi suất: lãi suất danh nghĩa khó hạ sâu dưới 0, nên lạm phát dương cho ngân hàng trung ương thêm dư địa đưa lãi suất thực xuống âm khi suy thoái. Thứ ba là lương danh nghĩa khó giảm: người lao động phản đối cắt lương danh nghĩa mạnh hơn nhiều so với việc lương thực giảm qua lạm phát nhẹ; một chút lạm phát giúp thị trường lao động điều chỉnh tương đối mà ít va chạm, lập luận được George Akerlof, William Dickens và George Perry trình bày năm 1996.
Giảm phát kéo dài, ngược lại, nguy hiểm theo cách riêng: người ta hoãn chi tiêu chờ giá rẻ hơn, giá trị thực của nợ tăng lên, và lãi suất thực bị đẩy cao đúng lúc nền kinh tế cần nới lỏng. Kinh nghiệm Nhật Bản sau thập niên 1990 thường được dẫn làm minh hoạ. Mục tiêu cụ thể vẫn là chủ đề tranh luận: một số nhà kinh tế đề xuất nâng lên 3–4% để có thêm dư địa, số khác cho rằng làm vậy sẽ phá vỡ uy tín đã tốn nhiều năm xây dựng. Các nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam thường đặt mục tiêu cao hơn, ví dụ quanh 4%, do cơ cấu giá và tốc độ hội tụ năng suất khác biệt.
Đọc con số lạm phát cho đúng: bốn câu cần hỏi
Cùng một tháng, báo chí có thể đưa ba con số lạm phát khác nhau mà không ai sai. Trước khi kết luận, hãy kiểm theo thứ tự:
- So với mốc nào? CPI tháng này so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước, hay so với tháng 12 năm trước là ba khái niệm khác nhau. Con số so với cùng kỳ ít bị ảnh hưởng bởi yếu tố mùa vụ như Tết.
- Bình quân hay điểm? CPI bình quân một giai đoạn so với cùng giai đoạn năm trước là trung bình trượt, thay đổi chậm hơn nhiều so với con số so cùng kỳ của một tháng đơn lẻ. Mục tiêu lạm phát ở Việt Nam thường được nêu theo CPI bình quân năm.
- Toàn phần hay cơ bản? Nếu lạm phát toàn phần tăng nhưng lạm phát cơ bản đứng yên, nguyên nhân nhiều khả năng là cú sốc giá lương thực, năng lượng hoặc điều chỉnh giá dịch vụ công, có thể qua đi.
- Có hiệu ứng nền không? Nếu cùng kỳ năm trước giá thấp bất thường, con số so cùng kỳ năm nay sẽ cao mà không phản ánh áp lực mới. Nhìn chuỗi so với tháng trước, đã điều chỉnh mùa vụ, giúp tách hiệu ứng này.
Đọc đúng con số quan trọng không chỉ cho nhà phân tích. Với doanh nghiệp, mức điều chỉnh lương, giá hợp đồng dài hạn hay lãi suất thực của một khoản vay đều phụ thuộc vào việc dùng thước đo lạm phát nào và kỳ so sánh nào.
Câu hỏi thường gặp
Lạm phát và giảm phát khác giảm lạm phát thế nào?
Giảm phát là mức giá chung giảm, tức lạm phát âm. Giảm lạm phát là tốc độ tăng giá chậm lại nhưng giá vẫn tăng, ví dụ từ 6% xuống 3%. Người tiêu dùng thường hiểu lầm khi nghe lạm phát giảm mà giá trong chợ vẫn cao hơn năm trước: giảm lạm phát không đưa giá về mức cũ, nó chỉ làm giá tăng chậm hơn.
In thêm tiền có luôn gây lạm phát không?
Không phải lúc nào cũng ngay lập tức. Sau khủng hoảng 2008, nhiều ngân hàng trung ương mở rộng bảng cân đối rất lớn mà lạm phát vẫn thấp suốt nhiều năm, vì tiền chủ yếu nằm lại thành dự trữ của ngân hàng và vòng quay tiền giảm mạnh. Mối liên hệ tiền và giá mạnh trong dài hạn và khi lạm phát cao, nhưng yếu và khó dự báo trong ngắn hạn.
Lạm phát kỳ vọng được đo bằng cách nào?
Có hai nguồn chính. Một là khảo sát hộ gia đình, doanh nghiệp và chuyên gia dự báo về mức tăng giá họ dự đoán. Hai là suy ra từ thị trường, ví dụ chênh lệch lợi suất giữa trái phiếu thường và trái phiếu chỉ số hoá theo lạm phát cùng kỳ hạn. Mỗi cách có sai lệch riêng nên ngân hàng trung ương thường theo dõi nhiều chỉ báo cùng lúc.
Tăng giá xăng có phải là lạm phát không?
Một lần tăng giá xăng là thay đổi giá tương đối và tác động trực tiếp lên CPI qua quyền số nhóm giao thông, cộng tác động gián tiếp qua chi phí vận tải. Nó trở thành lạm phát dai dẳng chỉ khi lan sang kỳ vọng và lương, hoặc khi chính sách tiền tệ dễ dãi để các đợt tăng giá nối tiếp nhau.
Vì sao lạm phát cao làm lãi suất tăng?
Người cho vay đòi lãi danh nghĩa đủ bù phần mất sức mua, theo phương trình Fisher. Đồng thời ngân hàng trung ương thường nâng lãi suất điều hành để làm nguội tổng cầu và neo kỳ vọng. Hai cơ chế cùng chiều khiến giai đoạn lạm phát cao thường đi kèm lãi suất cao, dù lãi suất thực có thể vẫn thấp hoặc âm.
Lạm phát có lợi cho tăng trưởng không?
Bằng chứng thực nghiệm xuyên quốc gia cho thấy lạm phát cao, trên khoảng hai chữ số, gắn với tăng trưởng thấp hơn. Ở mức thấp và ổn định, mối liên hệ không rõ ràng. Điều được đồng thuận rộng là lạm phát khó dự đoán gây hại nhiều hơn mức lạm phát cụ thể, vì nó làm hợp đồng dài hạn và quyết định đầu tư trở nên rủi ro.