Nhận thức luận (epistemology) là nhánh triết học nghiên cứu tri thức và sự biện minh: biết một điều là gì, khác với chỉ tin hay đoán trúng ở chỗ nào, và những nguồn nào như tri giác, suy luận, trí nhớ, lời chứng của người khác đem lại tri thức thật. Câu hỏi trung tâm có vẻ đơn giản: “Khi khẳng định mình biết một điều, ta đòi hỏi gì ở chính mình?”
Câu trả lời kinh điển, thường truy về đối thoại Theaetetus của Plato, là tri thức bằng niềm tin đúng được biện minh. Năm 1963, Edmund Gettier đăng một bài báo chỉ ba trang cho thấy định nghĩa ấy thiếu: có những trường hợp người ta có niềm tin đúng, có lý do tốt, mà vẫn không ai muốn gọi là biết. Sáu thập kỷ sau, chưa có bản sửa nào được chấp nhận rộng rãi.
Ba điều kiện của định nghĩa cổ điển
Theo định nghĩa ba phần, một người S biết mệnh đề p khi và chỉ khi: (1) p đúng; (2) S tin p; (3) S có biện minh cho niềm tin p. Mỗi điều kiện loại bỏ một loại trường hợp. Điều kiện sự thật loại niềm tin sai: không thể “biết” rằng Hà Nội nằm phía nam Huế. Điều kiện niềm tin loại những sự thật mà ta không hề nghĩ tới. Điều kiện biện minh loại những lần đoán trúng: người mua vé số tin chắc mình trúng và tình cờ trúng thật vẫn không “biết” trước rằng mình sẽ trúng.
Phần gây tranh luận nhiều nhất là biện minh. Biện minh có thể là bằng chứng giác quan, suy luận từ điều đã biết, trí nhớ, lời chứng của chuyên gia. Định nghĩa không đòi biện minh phải tuyệt đối chắc chắn, vì nếu đòi như vậy thì gần như mọi thứ ta gọi là biết, từ kết quả xét nghiệm tới ngày sinh của chính mình, đều mất tư cách tri thức. Nhận thức luận hiện đại phần lớn theo lập trường khả ngộ (fallibilism): có thể biết dù về nguyên tắc vẫn có khả năng sai.
Chính sự nới lỏng hợp lý này mở cửa cho Gettier. Nếu biện minh có thể tồn tại mà không bảo đảm sự thật, thì sẽ có những trường hợp niềm tin được biện minh và tình cờ đúng, nhưng đúng vì một lý do chẳng liên quan gì đến chính sự biện minh ấy.
Phản ví dụ Gettier hoạt động thế nào
Ví dụ gốc của Gettier. Smith có bằng chứng mạnh rằng Jones sẽ được tuyển và rằng Jones có mười đồng xu trong túi. Từ đó Smith suy ra: “Người được tuyển có mười đồng xu trong túi.” Hoá ra chính Smith được tuyển, và Smith, không hề biết, cũng có mười đồng xu trong túi. Niềm tin của Smith đúng, được biện minh, nhưng rõ ràng Smith không biết.
Chiếc đồng hồ dừng. Một biến thể Bertrand Russell đã nêu từ trước Gettier: bạn nhìn chiếc đồng hồ ở sảnh cơ quan, thấy 8 giờ 15 và tin rằng bây giờ là 8 giờ 15. Đúng là 8 giờ 15, nhưng đồng hồ đã chết từ hôm qua và tình cờ dừng đúng giờ ấy. Bạn có lý do chính đáng để tin đồng hồ, niềm tin đúng, mà vẫn chỉ là may.
Vùng quê có chuồng giả. Ví dụ do Alvin Goldman công bố năm 1976 (ông ghi nhận ý tưởng của Carl Ginet): một người lái xe qua vùng có rất nhiều mặt dựng giả hình nhà kho, nhìn đúng vào nhà kho thật duy nhất và tin “đó là một nhà kho”. Không có suy luận sai nào, nhưng môi trường khiến niềm tin chỉ đúng nhờ may.
Cấu trúc chung. Mọi trường hợp Gettier có cùng hai bước: một niềm tin được biện minh nhưng có thể sai, rồi một sự may mắn làm nó đúng. Linda Zagzebski lập luận năm 1994 rằng chừng nào biện minh còn không bảo đảm sự thật, có thể dựng phản ví dụ kiểu này cho bất kỳ định nghĩa nào thêm điều kiện thứ tư.
Các hướng trả lời chính sau Gettier
Các phản hồi có thể xếp thành vài họ. Mỗi họ cứu được một số trường hợp nhưng trả một cái giá riêng:
| Hướng trả lời | Ý chính | Khó khăn |
|---|---|---|
| Không dựa trên tiền đề sai | Thêm điều kiện: niềm tin không được suy ra từ một điều sai (Smith suy từ “Jones được tuyển”, vốn sai). | Ví dụ nhà kho giả không có tiền đề sai nào mà vẫn không phải tri thức. |
| Thuyết nhân quả, thuyết tin cậy | Biết là khi niềm tin do một quá trình đáng tin tạo ra, gắn đúng cách với sự thật (Goldman). | Thế nào là “quá trình”? Mô tả rộng hay hẹp cho kết quả khác nhau (vấn đề tính tổng quát). |
| Điều kiện an toàn, nhạy cảm | Niềm tin phải không dễ sai: trong các tình huống gần giống, nếu p sai thì ta đã không tin p. | Đánh giá “tình huống gần giống” khó định nghĩa chặt; có phản ví dụ riêng. |
| Nhận thức luận đức hạnh | Biết là đạt sự thật nhờ năng lực nhận thức của chính mình, không nhờ may (Sosa, Zagzebski). | Phải giải thích chữ “nhờ” mà không quay vòng. |
| Tri thức đi trước | Tri thức là khái niệm cơ bản, không phân tích được thành thành phần (Timothy Williamson, 2000). | Có người coi đây là bỏ cuộc trước bài toán phân tích. |
Hiện trạng khá trung thực: giới nhận thức luận đồng thuận rằng định nghĩa ba phần không đủ, nhưng không đồng thuận về bản sửa. Một số nghiên cứu triết học thực nghiệm cũng khảo sát xem người ở các nền văn hoá khác nhau có cùng trực giác “không biết” trước các ví dụ Gettier hay không; kết quả ban đầu gợi ý có khác biệt, nhưng nhiều nghiên cứu lặp lại sau đó lại thấy trực giác này khá phổ quát. Đây vẫn là vùng còn tranh luận.
Nội tại hay ngoại tại: biện minh nằm ở đâu
Đằng sau các bản sửa là một chia rẽ sâu hơn. Phe nội tại cho rằng biện minh phải là thứ người biết có thể tiếp cận bằng suy xét: lý do, bằng chứng, trải nghiệm mà họ có thể nêu ra. Phe ngoại tại cho rằng điều làm niềm tin thành tri thức có thể nằm ngoài tầm nhận biết của chủ thể, chẳng hạn mắt và não của bạn thực sự là một cơ chế đáng tin, dù bạn không chứng minh được điều đó.
Một trường hợp làm rõ khác biệt: hai người trải nghiệm giống hệt nhau, một người sống bình thường, người kia bị một nhà khoa học lừa bằng tín hiệu nhân tạo đưa vào não. Nội tại luận nói cả hai đều được biện minh như nhau vì cùng có các lý do như nhau. Ngoại tại luận nói chỉ người thứ nhất có tri thức vì chỉ ở người đó quá trình hình thành niềm tin gắn với thế giới đúng cách.
Lựa chọn này có hệ quả thực tế. Một bác sĩ chẩn đoán đúng nhờ “con mắt nghề” mà không giải thích được lý do: theo ngoại tại luận đó có thể là tri thức thật nếu trực giác ấy được huấn luyện đáng tin; theo nội tại luận thì phải nêu được lý do mới tính. Trong y học dựa trên bằng chứng hay kiểm định mô hình học máy, câu hỏi “tin vào kết quả của một hệ thống mà ta không giải thích được” chính là phiên bản ứng dụng của tranh luận này.
Cấu trúc của biện minh và bóng ma hoài nghi
Vấn đề hồi quy. Nếu mọi niềm tin cần được biện minh bằng một niềm tin khác, chuỗi biện minh sẽ hoặc kéo dài vô tận, hoặc quay vòng, hoặc dừng lại ở đâu đó. Ba lựa chọn này cho ra ba lập trường chính.
Thuyết nền tảng. Có những niềm tin cơ bản tự biện minh, như trải nghiệm giác quan trực tiếp (“đang có một mảng đỏ trong thị trường của ta”) hay chân lý hiển nhiên; mọi niềm tin khác dựa trên chúng. Khó khăn: chỉ ra niềm tin nào đủ vững mà vẫn đủ giàu để chống đỡ phần còn lại.
Thuyết nhất quán. Niềm tin được biện minh nhờ ăn khớp với cả hệ thống, như một tấm lưới chứ không như một toà nhà. Khó khăn: một câu chuyện hư cấu chặt chẽ cũng có thể rất nhất quán.
Hoài nghi triệt để. Nếu không loại trừ được khả năng mình đang mơ hay đang bị lừa bởi một tác nhân toàn năng, liệu ta có biết bất cứ điều gì về thế giới bên ngoài? Descartes dùng hoài nghi như phương pháp; các phản hồi hiện đại gồm phân tích tri thức theo ngữ cảnh (tiêu chuẩn của “biết” thay đổi theo mức rủi ro trong hội thoại) và lập luận của G. E. Moore rằng ta chắc chắn về việc mình có hai bàn tay hơn bất kỳ tiền đề nào của nhà hoài nghi.
Một bộ câu hỏi kiểm tra tri thức dùng được hằng ngày
Nhận thức luận không cho một thuật toán, nhưng các khái niệm của nó chuyển thành vài câu hỏi rất hữu dụng khi bạn đánh giá một khẳng định trong báo cáo, cuộc họp hay bài nghiên cứu:
- Nguồn của niềm tin là gì? Quan sát trực tiếp, suy luận, trí nhớ hay lời kể lại? Lời chứng qua nhiều tầng trung gian thì độ tin giảm theo mỗi tầng.
- Nếu điều này sai, mình có nhận ra không? Đây là phiên bản thực dụng của điều kiện nhạy cảm. Một chỉ số KPI luôn “xanh” dù hoạt động thực tế tốt hay xấu là một nguồn không nhạy cảm, giống chiếc đồng hồ dừng.
- Có phải mình đúng vì may không? Một dự báo trúng một lần chưa chứng tỏ phương pháp tốt. Hãy hỏi phương pháp đó đã đúng bao nhiêu lần trong những tình huống tương tự.
- Môi trường có nhiều “nhà kho giả” không? Trên mạng xã hội, ảnh dựng và tin giả nhiều đến mức một lần nhìn đúng chưa đủ thành tri thức; cần kiểm chéo.
- Mức chắc chắn cần đến đâu? Tiêu chuẩn để “biết” một chuyến bay cất cánh đúng giờ khi đi du lịch khác với khi đi phỏng vấn quan trọng. Nâng tiêu chuẩn theo cái giá của sai lầm.
Những câu hỏi này không thay cho phương pháp chuyên ngành, nhưng giúp phân biệt ba thứ mà đời thường hay trộn lẫn: điều mình tin, điều mình có lý do để tin, và điều mình thực sự biết.
Dòng thời gian ngắn của nhận thức luận
Nhận thức luận không bắt đầu với Gettier. Dưới đây là những chặng chính, để thấy câu hỏi đã đổi trọng tâm thế nào qua các thời kỳ:
- Hy Lạp cổ đại. Plato phân biệt tri thức (episteme) với ý kiến (doxa); phái hoài nghi Pyrrho và Sextus Empiricus hệ thống hoá các lập luận khiến ta phải treo phán đoán.
- Thế kỷ XVII. Descartes biến hoài nghi thành phương pháp và đặt nhận thức luận vào trung tâm triết học; câu hỏi “ta biết bằng cách nào” đi trước câu hỏi “cái gì tồn tại”.
- Thế kỷ XVII–XVIII. Tranh luận giữa phái duy lý và phái kinh nghiệm về nguồn gốc ý niệm; Hume đặt ra vấn đề quy nạp, Kant hỏi tri thức tiên nghiệm về thế giới làm sao có được.
- Đầu thế kỷ XX. Russell phân biệt tri thức bằng trực tiếp quen biết với tri thức bằng mô tả; phái thực chứng logic gắn ý nghĩa của câu với cách kiểm chứng nó.
- 1963 trở đi. Bài báo của Gettier mở ra hàng chục năm tìm điều kiện thứ tư; thuyết tin cậy và tranh luận nội tại – ngoại tại hình thành trong thập niên 1960–1980.
- Từ 1969. Quine đề xuất nhận thức luận tự nhiên hoá, xem nghiên cứu tri thức là một phần của tâm lý học thực nghiệm; từ đó nhận thức luận làm việc sát hơn với khoa học nhận thức.
- Cuối thế kỷ XX – nay. Nhận thức luận xã hội hỏi tri thức được tạo ra và lan truyền trong cộng đồng thế nào: lời chứng, chuyên gia và người không chuyên, bất đồng giữa những người ngang tầm. Khái niệm bất công nhận thức của Miranda Fricker (2007) bàn việc lời chứng của một số nhóm người bị đánh giá thấp một cách có hệ thống.
Xu hướng chung là đi từ một chủ thể cô lập tìm chắc chắn tuyệt đối sang những tác nhân khả ngộ, dựa vào nhau và vào công cụ. Đó cũng là hoàn cảnh của người làm nghiên cứu hôm nay: hầu hết những gì ta biết trong chuyên ngành đều đến từ lời chứng của đồng nghiệp qua bài báo, dữ liệu và phần mềm mà ta không tự kiểm lại được.
Câu hỏi thường gặp
Nhận thức luận khác tâm lý học nhận thức thế nào?
Tâm lý học nhận thức mô tả con người thực sự hình thành niềm tin ra sao, kể cả các thiên kiến. Nhận thức luận hỏi câu hỏi chuẩn tắc: niềm tin nên được hình thành thế nào thì mới được biện minh. Hai bên ngày càng gần nhau; Quine từng đề xuất “tự nhiên hoá” nhận thức luận năm 1969.
Định nghĩa tri thức trong Theaetetus có đúng là của Plato không?
Plato nêu ý “niềm tin đúng kèm lời giải thích” trong Theaetetus nhưng chính đối thoại kết thúc bằng việc bác bỏ nó; ông cũng nói tới ý tương tự trong Meno. Gọi đó là “định nghĩa của Plato” là cách nói giản lược, thực ra là định nghĩa được các nhà nhận thức luận thế kỷ XX hệ thống hoá.
Tri thức có cần chắc chắn tuyệt đối không?
Đa số nhà nhận thức luận hiện nay nói không. Nếu đòi chắc chắn tuyệt đối, hầu như mọi tri thức thực nghiệm đều mất tư cách. Lập trường khả ngộ cho phép biết dù về nguyên tắc vẫn có thể sai, miễn biện minh đủ tốt và không có yếu tố may mắn kiểu Gettier.
Lời chứng của người khác có tạo ra tri thức không?
Có, và đây là nguồn phần lớn tri thức của mỗi người: lịch sử, địa lý, khoa học ta chủ yếu biết qua người khác. Tranh luận nằm ở chỗ người nghe có cần lý do độc lập để tin người nói (quan điểm quy giản) hay được mặc định tin nếu không có dấu hiệu nghi ngờ (quan điểm phi quy giản).
Tri thức “biết cách” có giống tri thức “biết rằng” không?
Gilbert Ryle năm 1949 phân biệt biết cách (bơi, đi xe đạp) với biết rằng (Huế từng là kinh đô). Ông cho rằng biết cách là năng lực, không quy về mệnh đề. Jason Stanley và Timothy Williamson năm 2001 phản bác, cho rằng biết cách vẫn là một dạng biết rằng. Tranh luận còn mở.
Vì sao vấn đề Gettier quan trọng nếu nó chỉ là các ví dụ hiếm gặp?
Vì nó cho thấy khái niệm tri thức có một thành phần chống may mắn mà ta dùng hằng ngày nhưng không định nghĩa được. Điều này quan trọng khi đánh giá hệ thống tự động: một mô hình cho kết quả đúng vì dựa trên đặc trưng sai cũng ở trong tình thế Gettier.