Chủ nghĩa hiện sinh là trào lưu triết học cho rằng con người không có một bản chất định sẵn quyết định mình phải là gì; mỗi người tự định hình bản thân qua các lựa chọn và hành động, và vì thế phải chịu trách nhiệm trọn vẹn cho con người mình trở thành. Công thức nổi tiếng nhất là của Jean-Paul Sartre: hiện hữu có trước bản chất.
Trào lưu đạt đỉnh ảnh hưởng ở Paris sau Thế chiến thứ hai, với Sartre, Simone de Beauvoir và Albert Camus, nhưng gốc rễ của nó đi về Kierkegaard, Nietzsche và Heidegger. Điều nên biết ngay: nhiều người hay bị gắn nhãn “hiện sinh” lại từ chối nhãn này, trong đó có cả Camus và Heidegger. Chủ nghĩa hiện sinh giống một họ các mối quan tâm chung hơn là một học thuyết thống nhất: tự do, lo âu, tính chân thực, cái chết, sự phi lý và trách nhiệm.
“Hiện hữu có trước bản chất” nghĩa là gì
Tháng 10 năm 1945, Sartre trình bày một bài nói chuyện ở Paris, in năm sau thành sách mỏng Chủ nghĩa hiện sinh là một chủ nghĩa nhân văn. Ông lấy ví dụ con dao rọc giấy: trước khi được làm ra, người thợ đã có trong đầu khái niệm về nó, nó dùng để làm gì, làm theo cách nào. Với đồ vật, bản chất (cái nó là, cái nó dùng để làm gì) có trước sự tồn tại cụ thể.
Con người thì ngược lại. Ta xuất hiện trong thế giới trước, rồi mới định nghĩa mình qua những gì mình làm. Không có bản thiết kế sẵn nào, dù từ tự nhiên, xã hội hay một trật tự siêu hình, quy định một người “vốn là” nhút nhát, “sinh ra để” làm kế toán hay “bản chất” là người tốt. Sartre nói con người không là gì khác ngoài cái mình tự làm nên.
Hệ quả lập tức là tự do và trách nhiệm đi cùng nhau. Nếu không có bản chất định sẵn để đổ lỗi, thì cũng không có cớ: “mình vốn thế” trở thành một lời tự lừa dối. Sartre gọi con người là bị kết án phải tự do: ta không chọn việc được tự do, nhưng một khi đã ở trong thế giới, ta phải chịu trách nhiệm cho mọi điều ta làm, kể cả việc chọn không chọn.
Dòng thời gian: từ Kierkegaard tới Paris sau chiến tranh
Chủ nghĩa hiện sinh có một gia phả dài hơn nhiều so với hình ảnh quán cà phê Paris những năm 1940:
- Søren Kierkegaard (1813–1855). Phản đối các hệ thống triết học muốn giải thích mọi thứ bằng lý tính phổ quát, nhất là Hegel. Đặt trọng tâm vào cá nhân cụ thể phải lựa chọn, vào lo âu như cảm giác chóng mặt trước tự do (Khái niệm lo âu, 1844). Thường được coi là người khởi đầu trào lưu.
- Friedrich Nietzsche (1844–1900). Chẩn đoán sự sụp đổ của các nền tảng giá trị truyền thống ở châu Âu và đặt câu hỏi con người có thể tự tạo giá trị hay không. Không phải nhà hiện sinh theo nghĩa hẹp nhưng là nguồn cảm hứng lớn.
- Martin Heidegger, Tồn tại và thời gian (1927). Phân tích hiện hữu người (Dasein) như luôn đã bị “ném” vào một thế giới, sống phần lớn theo lối vô danh của “người ta”, và có thể sống chân thực khi đối diện với hữu hạn của chính mình. Sartre đọc Heidegger rất kỹ.
- Sartre, Tồn tại và hư vô (1943). Tác phẩm triết học chính của Sartre, viết trong thời Paris bị chiếm đóng, phát triển các khái niệm tự do, ngụy tín và cái nhìn của người khác.
- Camus, Người xa lạ và Huyền thoại Sisyphus (1942). Tiểu thuyết và tiểu luận về cái phi lý.
- Beauvoir, Đạo đức của sự mơ hồ (1947) và Giới tính thứ hai (1949). Đưa hiện sinh vào đạo đức học và phân tích thân phận phụ nữ.
Ở miền Nam Việt Nam trong thập niên 1960 và đầu thập niên 1970, chủ nghĩa hiện sinh từng là một trào lưu rất thịnh trong giới văn nghệ và sinh viên, với nhiều bản dịch Camus, Sartre và những cuộc tranh luận trên báo chí văn học. Từ “sống hiện sinh” trong tiếng Việt đời thường, thường mang nghĩa sống buông thả theo cảm hứng, là một dấu vết lệch nghĩa của giai đoạn đó.
Bốn khái niệm then chốt của Sartre
Lo âu. Không phải sợ một đối tượng cụ thể mà là cảm giác chóng mặt khi nhận ra không có gì bảo đảm cho lựa chọn của mình ngoài chính mình. Sartre lấy ví dụ người đứng bên bờ vực: sợ là sợ trượt chân, lo âu là nhận ra không có gì ngăn mình tự nhảy xuống ngoài quyết định của chính mình.
Ngụy tín. Tự lừa dối để trốn tự do. Ví dụ nổi tiếng trong Tồn tại và hư vô là anh bồi bàn ở quán cà phê với cử chỉ quá chuẩn, quá nhanh nhẹn, như thể anh là một bồi bàn theo cách cái bàn là cái bàn. Anh đang đóng vai bồi bàn để quên rằng mình luôn có thể làm khác. Câu “mình chỉ làm theo quy định” là dạng ngụy tín quen thuộc.
Tính thực tại và siêu vượt. Con người có những sự thật không chọn được: sinh ra ở đâu, thân thể, quá khứ. Sartre gọi đó là tính thực tại. Nhưng ý nghĩa của những sự thật ấy do cách ta dự phóng tương lai quyết định. Ngụy tín có hai dạng: coi mình chỉ là các sự thật cố định, hoặc giả vờ mình hoàn toàn thoát khỏi chúng.
Cái nhìn của người khác. Khi bị người khác nhìn, ta bỗng thấy mình thành một đối tượng trong thế giới của họ, bị phán xét, gán nhãn. Câu “địa ngục là người khác” trong vở kịch Cửa đóng (1944) thường bị hiểu là ghét người, nhưng Sartre giải thích nó nói về việc ta phụ thuộc vào phán xét của người khác để hiểu chính mình.
Tình thế của người học trò: khi không lý thuyết nào chọn thay được
Trong bài nói năm 1945, Sartre kể về một học trò đến xin lời khuyên trong thời chiến. Người anh trai đã chết, cha có khuynh hướng cộng tác với kẻ chiếm đóng, mẹ sống một mình và chỉ còn anh làm niềm an ủi. Anh phải chọn: sang Anh gia nhập lực lượng Pháp Tự do để chiến đấu, hay ở lại chăm sóc mẹ. Một bên là hành động cho một cộng đồng lớn nhưng kết quả mơ hồ; một bên là bổn phận cụ thể, chắc chắn có ích, với một người.
Sartre lập luận rằng không học thuyết đạo đức nào giải được tình thế này. Nguyên tắc “hãy coi con người là mục đích” áp dụng cho cả mẹ lẫn những người cùng chiến đấu. Lời khuyên “hãy nghe theo tình cảm” vô ích vì chính tình cảm chỉ được xác định qua hành động: anh chỉ biết mình yêu mẹ đủ để ở lại khi anh thực sự ở lại. Ngay cả việc chọn hỏi ai để xin lời khuyên cũng đã là một lựa chọn, vì anh biết trước người đó sẽ khuyên gì. Câu trả lời của Sartre: “Anh tự do, hãy chọn, nghĩa là hãy sáng tạo.”
Ví dụ này vừa là sức mạnh vừa là điểm yếu bị phê phán nhiều nhất. Sức mạnh: nó mô tả trung thực trải nghiệm của những lựa chọn không có đáp án, như chọn nghề, chọn ở lại quê chăm cha mẹ già hay lên thành phố lập nghiệp. Điểm yếu: nếu mọi giá trị đều do lựa chọn tạo ra, dựa vào đâu để nói lựa chọn này tốt hơn lựa chọn kia? Sartre cố trả lời rằng chọn cho mình là chọn một hình ảnh con người cho mọi người, nhưng nhiều nhà phê bình thấy câu trả lời này chưa đủ.
Sartre, Camus, Beauvoir: ba giọng khác nhau
Ba nhân vật thường được nhắc chung nhưng khác nhau ở những điểm quan trọng, và chính Camus và Sartre đã đoạn tuyệt công khai năm 1952 sau tranh luận về cuốn Con người nổi loạn của Camus:
| Vấn đề | Sartre | Camus | Beauvoir |
|---|---|---|---|
| Khái niệm trung tâm | Tự do và trách nhiệm | Cái phi lý: khát vọng ý nghĩa của con người va vào sự im lặng của thế giới | Tự do trong tình thế và trong quan hệ với người khác |
| Có nhận nhãn hiện sinh không | Có, chính ông phổ biến nó | Không, ông từ chối nhiều lần | Có |
| Phản ứng trước thiếu ý nghĩa | Tự tạo giá trị qua dự phóng | Nổi loạn: sống trọn vẹn mà không ảo tưởng; “phải hình dung Sisyphus hạnh phúc” | Hành động sao cho mở rộng tự do của chính mình và của người khác |
| Đóng góp nổi bật | Phân tích ngụy tín, cái nhìn | Huyền thoại Sisyphus, Người xa lạ | “Người ta không sinh ra là phụ nữ, người ta trở thành phụ nữ” |
Đáng chú ý nhất là Beauvoir, người thường bị xem nhẹ như “bạn đời của Sartre”. Đạo đức của sự mơ hồ xây dựng điều Sartre hứa mà chưa viết xong: một đạo đức học hiện sinh, trong đó tự do của mình chỉ trọn vẹn khi muốn tự do cho người khác. Giới tính thứ hai áp dụng ý tưởng “hiện hữu có trước bản chất” vào giới, trở thành một trong những tác phẩm nền tảng của tư tưởng nữ quyền thế kỷ XX.
Phê phán chính và điều còn lại hôm nay
Tự do có bị phóng đại không? Phê phán phổ biến nhất: Sartre thời Tồn tại và hư vô đánh giá thấp sức nặng của hoàn cảnh vật chất, nghèo đói, giai cấp, giới, và áp lực tình huống. Các thí nghiệm tâm lý học xã hội về sức ép tình huống, dù một số còn tranh cãi về cách diễn giải, cho thấy hành vi bị bối cảnh chi phối mạnh hơn ta tưởng. Chính Sartre về sau, trong Phê phán lý tính biện chứng (1960), dành nhiều chỗ hơn cho điều kiện xã hội.
Heidegger từ chối cách đọc của Sartre. Trong Thư về chủ nghĩa nhân văn (1947), Heidegger cho rằng Sartre chỉ đảo ngược trật tự siêu hình cũ giữa hiện hữu và bản chất, vẫn nằm trong cùng khung ấy, chứ không vượt qua nó.
Phái cấu trúc luận. Từ thập niên 1960, Claude Lévi-Strauss và các nhà cấu trúc luận cho rằng cấu trúc ngôn ngữ, thân tộc và văn hoá định hình chủ thể sâu hơn nhiều so với ý thức tự do, làm suy giảm ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh ở Pháp.
Điều còn đứng vững. Mô tả hiện tượng học về lo âu, ngụy tín và tính chân thực vẫn sắc sảo; những người làm tư vấn và trị liệu theo hướng hiện sinh, như Viktor Frankl và Irvin Yalom, đã chuyển chúng thành cách tiếp cận lâm sàng với các câu hỏi về ý nghĩa, tự do, cô đơn và hữu hạn. Với người đọc, giá trị lớn nhất có lẽ là một câu hỏi kiểm tra đơn giản: khi nói “mình không có lựa chọn”, điều đó đúng thật, hay mình đang đóng vai anh bồi bàn?
Câu hỏi thường gặp
Chủ nghĩa hiện sinh có phải là chủ nghĩa bi quan không?
Sartre bác bỏ điều này: ông gọi học thuyết của mình là lạc quan vì nó đặt vận mệnh vào tay con người. Cái bị coi là bi quan là việc từ chối mọi bảo đảm có sẵn về ý nghĩa. Camus cũng kết thúc Huyền thoại Sisyphus bằng hình ảnh hạnh phúc, không phải tuyệt vọng.
Chủ nghĩa hiện sinh khác chủ nghĩa hư vô thế nào?
Hư vô kết luận rằng không có giá trị nào đáng theo nên mọi thứ đều vô nghĩa. Hiện sinh nhận cùng điểm xuất phát là không có giá trị định sẵn, nhưng kết luận rằng con người phải và có thể tạo ra giá trị qua lựa chọn có trách nhiệm. Hiện sinh là một nỗ lực vượt qua hư vô.
Vì sao Camus không nhận mình là nhà hiện sinh?
Camus cho rằng các nhà hiện sinh, kể cả Sartre, rốt cuộc vẫn tìm một lối thoát khỏi cái phi lý, bằng niềm tin hay bằng việc tự tạo ý nghĩa. Ông muốn giữ cái phi lý ở trạng thái mở và sống với nó bằng sự nổi loạn tỉnh táo. Bất đồng chính trị với Sartre năm 1952 càng làm khoảng cách lớn thêm.
Nên bắt đầu đọc chủ nghĩa hiện sinh từ đâu?
Bài nói năm 1945 của Sartre ngắn và dễ đọc, dù chính ông về sau thấy nó giản lược. Huyền thoại Sisyphus và tiểu thuyết Người xa lạ của Camus là cửa vào văn chương tốt. Tồn tại và hư vô hay Tồn tại và thời gian rất khó, nên đọc kèm sách hướng dẫn đáng tin.
Chủ nghĩa hiện sinh có liên quan đến tâm lý học không?
Có. Từ giữa thế kỷ XX đã hình thành hướng tâm lý trị liệu hiện sinh, chú trọng các chủ đề tự do, trách nhiệm, ý nghĩa và cái chết. Cuốn sách của Viktor Frankl kể về trải nghiệm trong trại tập trung và liệu pháp ý nghĩa của ông được đọc rộng rãi. Đây là một hướng tiếp cận, không thay thế đánh giá chuyên môn.
“Sống hiện sinh” theo nghĩa đời thường có đúng tinh thần triết học này không?
Gần như ngược lại. Nghĩa đời thường là sống buông thả theo cảm hứng nhất thời. Triết học hiện sinh đòi hỏi điều nặng nề hơn nhiều: nhận trọn trách nhiệm cho mọi lựa chọn, không đổ lỗi cho hoàn cảnh hay bản tính, và sống chân thực với những cam kết của mình.