Vấn đề khó của ý thức (hard problem of consciousness) là câu hỏi: vì sao và bằng cách nào các quá trình vật lý trong não lại đi kèm trải nghiệm chủ quan, cái cảm giác “như thế nào đó” khi thấy màu đỏ, nếm vị cà phê hay đau răng. Thuật ngữ do David Chalmers đặt ra trong một bài báo năm 1995 đăng trên Journal of Consciousness Studies, phân biệt nó với các “vấn đề dễ”.
“Dễ” không có nghĩa là đơn giản: giải thích não phân biệt kích thích, tích hợp thông tin, điều khiển chú ý và báo cáo trạng thái như thế nào có thể mất hàng thế kỷ. Nhưng đó là các câu hỏi về chức năng, và ta biết hình dạng của lời giải: tìm cơ chế thực hiện chức năng đó. Vấn đề khó còn lại ngay cả khi mọi chức năng đã được giải thích: vì sao tất cả hoạt động ấy không diễn ra “trong bóng tối”, không kèm trải nghiệm nào? Đây là phiên bản hiện đại của vấn đề tâm – thân Descartes để lại.
Ba thí nghiệm tư duy định hình cuộc tranh luận
Làm một con dơi thì như thế nào (Thomas Nagel, 1974). Dơi định vị bằng tiếng vang, một giác quan con người không có. Ta có thể biết mọi chi tiết thần kinh học về hệ định vị đó mà vẫn không biết làm dơi thì cảm thấy ra sao. Nagel lập luận rằng một sinh vật có ý thức khi và chỉ khi “có một cái gì đó như là” làm sinh vật ấy, và mô tả khách quan ở ngôi thứ ba dường như bỏ sót đúng điều này.
Mary trong căn phòng đen trắng (Frank Jackson, 1982). Mary là nhà khoa học biết mọi sự thật vật lý về thị giác màu nhưng lớn lên trong một căn phòng chỉ có đen và trắng. Khi bước ra và lần đầu thấy quả cà chua chín, cô có học được điều gì mới không? Nếu có, thì không phải mọi sự thật đều là sự thật vật lý. Điều thú vị là sau này chính Jackson đổi ý và bảo vệ chủ nghĩa vật lý; nhiều người đáp rằng Mary chỉ học được một năng lực mới hoặc một cách mới để tiếp cận cùng sự thật cũ.
Thây ma triết học (Chalmers, 1996). Hãy hình dung một sinh vật giống hệt bạn đến từng nguyên tử, hành xử và nói năng y hệt, nhưng không có trải nghiệm nào bên trong. Nếu một sinh vật như vậy là khả dĩ về mặt logic, thì ý thức không bị các sự thật vật lý quy định chặt. Phản biện chính: việc hình dung được chưa chắc kéo theo việc khả dĩ thật, điều mà Arnauld đã chỉ ra với Descartes từ thế kỷ XVII.
Khoảng trống giải thích (Joseph Levine, 1983). Một cách nói khiêm tốn hơn: ngay cả khi đau đồng nhất với một trạng thái thần kinh, ta vẫn chưa hiểu vì sao trạng thái ấy lại cảm thấy như đau. Levine không kết luận ý thức là phi vật chất, chỉ nói lời giải thích của ta còn thiếu một mắt xích.
Bản đồ các lập trường chính
Các câu trả lời trải từ phủ nhận vấn đề tới coi ý thức là đặc tính nền tảng của tự nhiên. Bảng dưới gom các lập trường chính, kèm phản biện điển hình:
| Lập trường | Ý chính | Phản biện điển hình |
|---|---|---|
| Nhị nguyên thực thể | Tâm trí là thực thể phi vật chất riêng (Descartes) | Không giải thích được tâm trí tác động lên vật chất mà không vi phạm bảo toàn năng lượng |
| Nhị nguyên thuộc tính | Chỉ một loại thực thể, nhưng có thuộc tính trải nghiệm không quy về vật lý (Chalmers) | Nguy cơ ý thức thành vô dụng về nhân quả |
| Thuyết đồng nhất | Trạng thái tinh thần chính là trạng thái não (U. T. Place 1956, J. J. C. Smart 1959) | Bạch tuộc có thể đau với một hệ thần kinh khác hẳn ta |
| Chức năng luận | Trạng thái tinh thần được định nghĩa bằng vai trò nhân quả, có thể thực hiện trên nhiều chất liệu (Hilary Putnam) | Dường như bỏ sót chính phẩm chất trải nghiệm |
| Thuyết ảo tưởng | Phẩm chất trải nghiệm như ta tưởng là không có; chỉ có não tự biểu diễn mình như có (Daniel Dennett, Keith Frankish) | Nhiều người thấy nó phủ nhận chính điều cần giải thích |
| Toàn tâm luận | Một dạng trải nghiệm sơ khai là đặc tính cơ bản của vật chất (Galen Strawson, Philip Goff) | Vấn đề kết hợp: các trải nghiệm nhỏ gộp thành một chủ thể thống nhất thế nào |
Không lập trường nào chiếm đa số tuyệt đối. Các khảo sát giới triết học chuyên nghiệp, như khảo sát PhilPapers, cho thấy chủ nghĩa vật lý về tâm trí được nhiều người ủng hộ hơn các phương án khác, nhưng một tỷ lệ đáng kể chọn nhị nguyên, toàn tâm luận hoặc không chọn lập trường nào. Bản thân việc vấn đề khó có thực hay không cũng là điểm tranh cãi.
Khoa học ý thức đang làm gì với câu hỏi này
Từ thập niên 1990, Francis Crick và Christof Koch thúc đẩy việc tìm tương quan thần kinh của ý thức: tập hợp tối thiểu các sự kiện thần kinh đủ để có một trải nghiệm cụ thể. Phương pháp điển hình là so sánh những lúc kích thích giống hệt nhau nhưng được nhận biết hoặc không, như trong kỹ thuật che khuất hay cạnh tranh hai mắt. Cách làm này tránh được vấn đề khó bằng cách hỏi câu hỏi dễ hơn: ý thức gắn với hoạt động nào, chứ chưa hỏi vì sao.
Hai lý thuyết lớn hiện nay đi theo hai hướng. Thuyết không gian làm việc toàn cục (Bernard Baars, sau đó Stanislas Dehaene phát triển dạng thần kinh) cho rằng một thông tin trở thành ý thức khi được phát rộng ra toàn não, sẵn sàng cho nhiều hệ thống dùng. Thuyết thông tin tích hợp (Giulio Tononi) cho rằng ý thức chính là mức độ thông tin được tích hợp trong một hệ, đo bằng đại lượng Φ. Năm 2023, một dự án “hợp tác đối nghịch” công bố kết quả kiểm định các dự đoán khác nhau của hai thuyết; kết quả không ủng hộ trọn vẹn bên nào, và ngay sau đó một thư ngỏ có hơn một trăm nhà nghiên cứu ký tên gọi thuyết thông tin tích hợp là giả khoa học, gây một cuộc tranh cãi gay gắt trong ngành.
Điểm đáng chú ý cho người đọc triết học: các lý thuyết khoa học này hoặc lặng lẽ bỏ qua vấn đề khó (không gian làm việc toàn cục giải thích chức năng), hoặc đặt cược thẳng vào một lời giải triết học (thông tin tích hợp gần với toàn tâm luận ở chỗ cho rằng nhiều hệ đơn giản cũng có chút ý thức). Lựa chọn lý thuyết khoa học ở đây không trung lập về triết học.
Căn phòng tiếng Trung: máy có hiểu không
Thí nghiệm của Searle. Năm 1980, John Searle công bố bài “Minds, Brains, and Programs” trên Behavioral and Brain Sciences. Hãy hình dung một người không biết tiếng Trung ngồi trong phòng, nhận các tờ giấy ghi ký tự Trung Quốc qua khe cửa, tra một cuốn sổ quy tắc rất dày để biết phải trả ra chuỗi ký tự nào. Với người ngoài, căn phòng trả lời trôi chảy như người bản ngữ. Nhưng người bên trong không hiểu một chữ nào. Searle kết luận: thao tác ký hiệu theo cú pháp, dù tinh vi đến đâu, không đủ tạo ra ngữ nghĩa và hiểu biết.
Phản hồi hệ thống. Người trong phòng không hiểu, nhưng cả hệ thống gồm người, sổ quy tắc và giấy tờ thì có thể hiểu. Searle đáp: cứ để người ấy học thuộc toàn bộ sổ quy tắc và làm trong đầu, người ấy vẫn không hiểu tiếng Trung. Người phản biện đáp lại rằng trực giác “vẫn không hiểu” chính là điều đang bị tranh luận, không thể dùng làm bằng chứng.
Phản hồi robot. Gắn căn phòng vào một robot có camera và tay chân, để ký hiệu nối với thế giới qua tri giác và hành động. Đây là gốc của tranh luận về “bám nền ký hiệu”: ngữ nghĩa có thể đến từ việc liên kết ký hiệu với cảm biến và hành vi hay không.
Ý nghĩa với mô hình ngôn ngữ lớn. Các mô hình ngôn ngữ hiện nay khiến thí nghiệm của Searle không còn là giả tưởng. Lưu ý rằng có hai câu hỏi khác nhau thường bị trộn: máy có hiểu theo nghĩa nắm được nội dung và suy luận đúng với nó không, và máy có trải nghiệm gì không. Câu thứ nhất có thể kiểm tra một phần bằng hành vi; câu thứ hai chính là vấn đề khó, và chưa có phép thử hành vi nào giải quyết được nó.
Những hiểu lầm phổ biến
“Vấn đề khó là bằng chứng cho linh hồn.” Không. Chalmers là một nhà tự nhiên luận: ông cho rằng ý thức có thể được giải thích bằng các quy luật tự nhiên, chỉ là các quy luật ấy có thể phải bao gồm những đặc tính cơ bản mới. Vấn đề khó là một câu hỏi về cấu trúc của lời giải thích, không cổ vũ cho bất kỳ niềm tin siêu nhiên nào.
“Khoa học thần kinh sắp giải xong ý thức.” Khoa học thần kinh tiến rất nhanh ở các vấn đề dễ: định vị chức năng, giải mã nội dung thị giác từ tín hiệu não. Nhưng không có kết quả nào hiện nay được giới chuyên môn chấp nhận rộng rãi là đã giải vấn đề khó; nhiều nhà khoa học còn nghi ngờ nó có phải là câu hỏi khoa học hay không.
“Chỉ con người mới có ý thức.” Tuyên bố Cambridge về ý thức năm 2012, do một nhóm nhà khoa học thần kinh ký, khẳng định bằng chứng cho thấy nhiều loài động vật, gồm thú có vú, chim và cả bạch tuộc, có nền tảng thần kinh cho trạng thái ý thức. Mức độ và dạng ý thức ở từng loài vẫn còn bàn cãi.
“Thuyết ảo tưởng nói rằng ta không có cảm giác gì.” Dennett và Frankish không phủ nhận việc ta thấy, nghe, đau. Họ phủ nhận rằng các trải nghiệm ấy có những phẩm chất nội tại, riêng tư, không thể mô tả như triết học truyền thống gán cho chúng.
Vì sao câu hỏi trừu tượng này có hệ quả thực tế
Trong y học, câu hỏi “bệnh nhân này có ý thức không” quyết định cách chăm sóc. Năm 2006, nhóm của Adrian Owen công bố trên Science trường hợp một bệnh nhân được chẩn đoán ở trạng thái thực vật, khi được yêu cầu tưởng tượng chơi quần vợt hoặc đi quanh nhà, lại cho thấy hoạt động não tương tự người khoẻ mạnh làm cùng nhiệm vụ. Từ đó, việc đánh giá ý thức ở người tổn thương não nặng không còn dựa riêng trên hành vi. Nhưng mọi phép đo như vậy đều phải dựa trên một giả định lý thuyết về việc dấu hiệu thần kinh nào đủ để kết luận có ý thức.
Trong phúc lợi động vật, việc một loài có trải nghiệm đau hay không ảnh hưởng tới quy định về chăn nuôi, nghiên cứu và giết mổ. Một số quốc gia đã mở rộng phạm vi bảo vệ trong luật sang động vật chân đầu và giáp xác mười chân dựa trên tổng quan bằng chứng về khả năng cảm nhận.
Trong trí tuệ nhân tạo, nếu một ngày ta phải quyết định một hệ thống có lợi ích đạo đức đáng tôn trọng hay không, câu trả lời phụ thuộc trực tiếp vào việc ta theo chức năng luận (hệ thống thực hiện đúng chức năng thì có ý thức), thuyết sinh học của Searle (cần đúng loại chất liệu nhân quả) hay thuyết thông tin tích hợp (phụ thuộc kiến trúc phần cứng). Câu hỏi triết học ở đây không chờ tới tương lai; nó đang quyết định cách các nhóm nghiên cứu thiết kế tiêu chí đánh giá.
Câu hỏi thường gặp
Qualia là gì?
Qualia là thuật ngữ triết học chỉ phẩm chất trải nghiệm chủ quan: cái đỏ của màu đỏ như bạn thấy, cái đau của vết bỏng như bạn cảm. Việc qualia có tồn tại như một loại thuộc tính riêng hay không là điểm tranh luận trung tâm giữa nhị nguyên thuộc tính, chủ nghĩa vật lý và thuyết ảo tưởng.
Vấn đề khó có khác vấn đề tâm – thân không?
Có liên quan chặt nhưng không trùng. Vấn đề tâm – thân rộng hơn, bao gồm cả câu hỏi về niềm tin, ý định và quan hệ nhân quả giữa tâm và thân. Vấn đề khó tập trung riêng vào khía cạnh trải nghiệm, phần dường như chống lại giải thích chức năng nhất.
Thây ma triết học có liên quan gì tới thây ma trong phim không?
Không. Thây ma triết học hành xử y hệt người bình thường, nói chuyện, cười, viết sách triết; chỉ thiếu trải nghiệm bên trong. Nó là công cụ lập luận để kiểm tra xem ý thức có bị các sự thật vật lý quy định tất yếu hay không, không phải sinh vật đáng sợ.
Nếu ý thức không có chức năng nhân quả thì sao ta lại nói về nó?
Đây là “vấn đề meta” mà Chalmers tự nêu năm 2018: lời nói và bài viết về ý thức là hành vi vật lý có nguyên nhân. Nếu ý thức không gây ra chúng, thì việc ta nói đúng về ý thức trở thành sự trùng hợp khó tin. Thuyết ảo tưởng xem đây là điểm mạnh của mình.
Đọc gì để vào triết học tâm trí một cách nghiêm túc?
Bài báo năm 1974 của Nagel và bài năm 1995 của Chalmers đều ngắn và đọc được. Sau đó nên đọc một giáo trình nhập môn triết học tâm trí có hệ thống, rồi một tác phẩm của phía đối lập như Dennett, để thấy cả hai phía trình bày bằng lập luận mạnh nhất của mình.
Có thể đo được ý thức không?
Có những thước đo thực dụng trong lâm sàng, như chỉ số phức tạp nhiễu loạn dùng kích thích từ xuyên sọ kết hợp điện não đồ để phân biệt các mức tỉnh thức. Nhưng các thước đo ấy được hiệu chỉnh dựa trên người có thể báo cáo; dùng chúng cho động vật hay máy là ngoại suy dựa trên giả định lý thuyết.